Document Actions

Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 1)

31. Yêu là khổ?

 Kính thưa Cha,

 

Xin phép Cha cho con không dùng tên và địa chỉ thật của con, và nếu vì việc tên và địa chỉ không thật này mà Cha không trả lời thư con trên báo thì con cũng xin chịu và con chỉ xin Cha vứt bỏ lá thư này của con đi, lý do có lẽ Cha cũng thông cảm cho con, con không muốn ai biết con và hoàn cảnh gia đình con đang sống, vì “gia đình” của con hiện tại tương đối hạnh phúc, vợ hiền, con ngoan, con không muốn làm nó tan vỡ đi, mặc dù trong lương tâm con lúc nào cũng bị dày vò nặng nề.

 

Con xin trình bày hết sức vắn tắt hoàn cảnh hôn phối của con: Năm 1983, lúc đó con 20 tuổi, con được sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo đạo hạnh với một nền giáo dục nghiêm khắc của cha mẹ. Ba con ngày xưa cũng có đi tu một thời gian dài trước khi lập gia đình với mẹ con bây giờ các anh các chị của con đa số người nào cũng có trình độ đại học hay tương đương và đã từng là sĩ quan trong quân đội hay công chức trước năm 1975. Phần con, vì sinh sau đẻ muộn, năm 1975 con mới có 13 tuổi đầu. Ba con và hai người anh lớn phải đi tù cải tạo sau tháng tư 75, 2 chị con nhanh chân theo chồng vượt biên ngay sau đó, một đang định cư tại Mỹ và một đang định cư tại Úc châu này.

 

Ba con và hai người anh được tha tù năm 1983 và cả gia đình con bàn tính chuyện vượt biên để tìm lẽ sống nơi những quốc gia tự do.

 

Khởi sự ngay cả trước khi ba con và hai anh được tha tù, mẹ con đã mua một thửa đất ở một họ đạo cách Vũng tàu khoảng 40 cây số (họ đạo HS) và dồn mọi nỗ lực vào việc tính toán vượt biên ngay sau khi ba con và hai anh về. Sau khi được tha tù, ba con về HS sinh sống với gia đình, hai anh con về Saigon với gia đình của các anh ấy, việc vượt biên hoàn toàn phó thác trong tay một mình mẹ con. Theo mẹ con tính thì làm sao tụ họp được toàn thể hai gia đình của các anh con từ Saigon ra HS ẩn náu trước khi xuống tàu an toàn. Mẹ con cho con biết rằng trước sau gì đàng nào con cũng sẽ lập gia đình, thôi thì nhân dịp này gia đình sẽ làm đám cưới cho con, tổ chức tiệc tùng mời họ hàng thân thích mừng ngày con thành hôn và nhân cơ hội đó...vượt biên luôn.

 

Nhưng việc khó khăn là tìm đâu cho được cô dâu trong ngày cưới? May quá là ba con có một người bạn làm bác sĩ cùng ở tù chung với nhau nhiều năm, ông bác sĩ này có một người con gái lúc đó 18 tuổi, cả gia đình cô cũng đang tìm đường vượt biên.

 

Thế là chúng con được giới thiệu với nhau, quen nhau. Nguyệt rất thông minh, tương đối có nhan sắc, gương mặt và nhất là đôi mắt thoát ra một vẻ buồn khó tả. Có lẽ chính vì nét buồn này mà con cảm rồi yêu thương Nguyệt tha thiết. Con không hiểu Nguyệt có thương con không để quyết định lấy con làm chồng, nhưng nhìn vẻ mặt và đôi mắt đó, con chắc là Nguyệt yêu con nhiều.

 

Đám cưới được ấn định vào một ngày cuối tháng âm lịch tối trời, thuận tiện cho việc vượt biên. Hôn lễ được cử hành trong nhà thờ HS, tiệc tùng linh đình với sự hiện diện đầy đủ của hai bên gia đình. Ban tổ chức vượt biên vẫn âm thầm làm việc, tính toán việc di chuyển người vào lúc nửa đêm xuống tàu ra khơi. Mọi sự ổn thỏa, chuyến đi không bị phát giác, nhưng điều đáng buồn là một nửa số người bị lọt lại, trong số đó có gia đình ba mẹ Nguyệt, ba mẹ con và chính con.

 

Năm tháng sau ba mẹ Nguyệt vượt biên thành công sang Phi luật tân, Nguyệt lúc đó đang ở Mã Lai. Hơn một năm sau con mới thoát khỏi Việt Nam đến Mã Lai, ở đây con gặp lại Nguyệt, Nguyệt vừa mới sanh trước đó khoảng một tuần lễ và đang chờ đi định cư tại Úc (cha của đứa bé dĩ nhiên không phải là con mà là một thanh niên tên là Phước, cùng là người công giáo và vượt biên cùng chuyến tàu do gia đình con tổ chức). Mặc dù có con với nhau, nhưng hai người không có liên hệ giấy tờ là vợ chồng, Phước cũng đang chờ đi Úc định cư. Gặp lại Nguyệt trong hoàn cảnh đó và nhìn đôi mắt u buồn của Nguyệt con không biết nói gì hơn là chấp nhận sự việc đã xảy ra với một tâm tình tôn giáo vị tha: Con chấp nhận Nguyệt là vợ, con chấp nhận đứa bé là con, coi như không có chuyện gì xảy ra...Nguyệt và đứa bé đi Úc định cư ba tuần sau ngày con đến đảo, Phước cũng rời đảo đi Úc cùng ngày đó. Nguyệt hứa sẽ làm giấy bảo lãnh cho con ngay khi đến Úc.

 

Ngay sau khi đến Úc, Nguyệt đã bảo lãnh cho con và lại hơn một năm sau con được vào Úc. Được vào Úc để nhìn thấy hoàn cảnh của Nguyệt như sau: Nguyệt và Phước hai người đã đang sống chung với nhau từ lâu, đứa bé con họ đã được hơn hai tuổi, bầu không khí gia đình đầm ấm vui vẻ.

 

Gặp con, Nguyệt vẫn với đôi mắt buồn tha thiết, không thốt lên một lời nào. Con và Phước hai người đàn ông giải quyết vấn đề. Phước nói: “Cái đó để tùy Nguyệt quyết định, nếu N quyết định trở lại với anh, tôi đành chấp nhận, tuy nhiên, anh cũng phải thông cảm là vì đứa con là con của tôi, tôi vẫn có trách nhiệm thăm viếng và chăm sóc.., con nói với P: “Đồng ý với Phước, thôi thì để N quyết định”. Nguyệt không nói gì cả, chỉ nhìn con và Phước mà hai hàng nước mắt tuôn rơi thảm não.

 

Thưa Cha, con hiểu con phải làm gì và con đã làm, con đã tự động rút lui, dọn đi một nơi khá xa để cho họ yên bề hạnh phúc.

 

Thời gian đầu tiên, con cảm thấy yêu đời và thoải mái vì con đã cư xử xứng đáng là một người quân tử, đã có lúc con có ý định đi tu vì nhìn chung quanh đời sống sao nó oan khiên quá ...Nhưng thời gian qua đi con mới cảm thấy con đã quân tử tàu vì con không có căn tu, và vì con cũng không thể sống độc thân mãi được để hy sinh cho người mình yêu được hạnh phúc.

 

Con gặp Hoa, con dấu tất cả mọi chuyện riêng tư (Hoa ngoại giáo và không bao giờ thắc mắc gì về việc đi lễ đi nhà thờ dù cả gia đình vẫn đi lễ thường xuyên), hai đứa con chung sống với nhau từ năm 1989 và đã có hai mặt con, một trai, một gái rất ngoan và kháu khỉnh (cả hai đứa nhỏ đều đã được rửa tội)

 

Thưa Cha, giờ con phải làm sao? Con vẫn còn thương Nguyệt, có lẽ sẽ không bao giờ con quên được khuôn mặt ấy với đôi mắt buồn vời vợi, nhưng con biết N. không thể trở lại với con được vì N. chỉ sống với con có một ngày và N. sống với Phước có con cái (hiện họ có 3 đứa con). Con không thể bỏ Hoa được vì bây giờ Hoa đang sống với con và chúng con đã có hai đứa con với nhau! Nhưng nếu con và Nguyệt không trở lại với nhau thì phần linh hồn con sẽ ra sao? Phần linh hồn Nguyệt sẽ ra sao? Phần linh hồn của Phước sẽ ra sao? Con không giận Nguyệt, không giận Phước hay giận bất cứ ai, nhưng con buồn vì Chúa sắp xếp cho chúng con một hoàn cảnh éo le không có lối thoát, xin Cha thương cứu giúp chúng con.

 

Xin lỗi Cha vì lá thư quá dài, nhưng vì sự đại lượng của Cha, xin Cha nhẫn nại đọc hết, giúp con, hướng dẫn con. Sự rộng lượng, lòng thương của Cha khi Cha trả lời thư này trên báo chính là một trợ lực giải thoát quí báu cho con, cho đức tin của con, một đức tin không có lối thoát. Xin Chúa luôn chúc lành cho Cha. Con xin chờ.

 

Nguyễn Vũ, Miền Bắc Úc

 

 ***************

 

Vũ mến,

 

Dù chỉ là một cái tên không thật, nhưng có một cái tên để gọi người mình đang tiếp chuyện vẫn có vẻ thân tình hơn. Tôi thật sự xúc động Vũ ạ! Khi đọc lá thư khá dài của Vũ, với kinh nghiệm đối diện hằng ngày với các hoàn cảnh gia đình éo le nơi toà án hôn phối, tôi hiểu được tâm trạng và đời sống của Vũ bây giờ.

 

Vũ ơi! Chúa vẫn chúc lành cho Vũ, cho Nguyệt, cho Phước và cho Hoa cùng một chúc lành Chúa ban cho những người khác, là những người đang sống trong hoàn cảnh gia đình bình thường trong xã hội. Nếu chưa giúp Vũ được gì, cũng xin được chia sẻ với Vũ sự thông cảm và niềm cảm thương với hoàn cảnh Vũ đang sống.

 

Từ đầu đến cuối, Nguyệt không hề lên tiếng biện hộ hay xin lỗi, giải thích hay đổ tội, chỉ nhìn với cặp mắt buồn vời vợi, cặp mắt đã đưa Vũ và có lẽ cả Phước nữa vào hoàn cảnh hiện tại. Hai câu thơ trong bài ca của Lý Diên Niên đời Hán bên Tàu đọc như sau: Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc. (tạm dịch là: liếc một cái làm nghiêng thành, liếc thêm một cái nữa làm nghiêng nước) có thể áp dụng trong hoàn cảnh này được không Vũ nhỉ? Vũ đã chẳng nói sẽ không bao giờ quên được đôi mắt u hoài ấy đấy thôi.

 

Bây giờ đi vào vấn đề Vũ nhé! Trước tiên, đề nghị Vũ hãy đưa hoàn cảnh hôn phối này cho Toà Án Hôn Phối cứu xét đi, đừng dùng dằng nữa, càng sớm càng tốt. Những yếu tố khiến cho hôn phối này có thể được tháo gỡ dường như hiện diện trong thời gian hai bên gia đình thu xếp việc thành thân của Vũ với Nguyệt. Tạm thời, tôi có thể phân tích như sau:

 

Dường như cả hai đương sự thiếu tự do trong việc bày tỏ sự ưng thuận trong phép Hôn phối. Vũ đã viết: "nhưng sự khó khăn là tìm đâu ra được cô dâu trong ngày cưới?...Thế là chúng con được giới thiệu với nhau...Có lẽ chính vì đôi mắt này mà con cảm rồi thương yêu N. tha thiết!...". Có một sự gì không ổn ở đây Vũ ạ!

 

Giáo luật điều 1103 xác quyết rằng hôn phối sẽ vô hiệu nếu được kết lập vì bạo lực hay sợ hãi trầm trọng do một nguyên cớ ngoại tại. Cho dù nguyên cớ ngoại tại này những người liên hệ không chủ ý trực tiếp gây ra. Nhưng để thoát khỏi nó, người ta bị bó buộc đành phải kết hôn. Sự thu xếp của gia đình để vượt biên bị thúc đẩy do sự sợ hãi chế độ và những bắt bớ tù đày có thể có. Sự sợ hãi này như chúng ta có thể thấy, thành hình do một nguyên cớ ngoại tại, với kết quả là Vũ và Nguyệt đành kết hôn. Kết hôn với một mục đích duy nhất là tạo cơ hội họp mặt để vượt biên.

 

Dĩ nhiên là Tòa án sẽ phải điều tra cặn kẽ về việc này, nhưng tôi tự hỏi là liệu lúc đó, trước khi cử hành hôn lễ, hai người có ý thức chắc chắn rằng hôn nhân là đời sống chung vĩnh viễn giữa người nam và người nữ hay không, như điều luật 1096 qui định? hay chỉ nghĩ đến việc qua mặt chính quyền, ngay cả trong chính lúc đọc lời thề hứa hôn phối trước bàn thờ?

 

Như thế, tôi có thể phỏng đoán rằng, mục đích của hôn nhân đã không được hai người tìm hiểu và ý thức cách thấu đáo, mà cụ thể là gia đình thu xếp dùng hôn lễ của hai người như một nguyên cớ để vượt biên. Đặt vấn đề ngược lại một chút cho nó sáng sủa hơn, đó là nếu không tính đến việc vượt biên thì liệu hai người có làm lễ cưới và tiệc cưới như đã làm không? Có thể là hai người cũng quen nhau vì hai ông bố là bạn tù và cùng tính chuyện vượt biên, có thể là Vũ cũng đã xây xẩm mặt mày khi nhìn gương mặt và đôi mắt ấy, nhưng hôn lễ thì không lấy gì làm chắc chắn nếu không có chuyện vượt biên.

 

Tóm lại, động lực chính cho hôn lễ của hai người dường như không là gì khác hơn là lấy nhau để vượt biên, và như thế, có thể sau khi điều tra với những chứng cớ xác thực, Tòa án sẽ tuyên bố hôn nhân đã thực hiện giữa Vũ và Nguyệt không thành sự ngay từ lúc cử hành.

 

Còn một khía cạnh nữa tôi nhìn thấy, đó là việc hoàn hợp của hôn phối đã cử hành. Vạn nhất những điều vừa kể trên, cuối cùng không thể tìm được chứng cớ vì bất cứ lý do nào, thì Tòa án có thể nhìn vào hôn phối của Vũ-Nguyệt dưới một khía cạnh khác, đó là liệu hôn phối của hai người đã được hoàn hợp chưa?

 

Điều luật 1142 qui định rằng một hôn phối chưa hoàn hợp giữa những người đã rửa tội hay giữa một người đã rửa tội và một người chưa rửa tội có thể được tháo gỡ do năng quyền của Đức Giáo Hoàng khi có lý do chính đáng. Một hôn phối đã cử hành trong nhà thờ theo các thủ tục được qui định mới chỉ là được “chuẩn nhận” (ratified ), Sau đó, hai người thật sự chung sống (giao hợp) với nhau, lúc đó mới được gọi là hoàn hợp.

 

Theo như Vũ trình bày trong thư, hôn lễ cuả hai người đã được cử hành trong nhà thờ HS, tiệc tùng linh đình...trong lúc ban tổ chức vẫn âm thầm tính toán việc chuyển người xuống tàu...và đêm đó vượt biên. Nguyệt rời Việt Nam ngay nửa đêm hôm đó. Vũ rớt lại, mãi cho đến hơn một năm sau. Vũ gặp lại Nguyệt bên trại tị nạn Mã lai, nhưng lúc đó Nguyệt vừa sanh được một tuần. Ba tuần sau, N. lên đường định cư, Vũ ở lại trại, rồi hơn một năm sau, khi sang đến Úc, Vũ thấy hai người N. và Phước đang là vợ là chồng...

 

Cứ theo như lời lẽ trong thư và theo suy luận "logic" một chút của những người không rõ câu chuyện, thì Vũ-Nguyệt hai người chưa có cơ hội để hoàn hợp hôn phối của mình. Như luật qui định, một hôn phối chưa hoàn hợp có thể tháo gỡ được.

 

Đã đủ dài và đủ ý nghĩa rồi phải không Vũ nhỉ? Bây giờ trả lời chính câu hỏi duy nhất của Vũ trong thư: bây giờ Vũ phải làm gì? Hãy liên lạc với Tòa án hôn phối càng sớm càng tốt.

 

Chúc Vũ tìm được bình an trong Mùa Chay này. Thân mến.
by Duc Tien Bui last modified 2007-01-03 21:20

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.