Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
158-168. Các Pháp nhân
1. PHÂN BIỆT THỂ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN
Việc phân biệt thể nhân và pháp nhân có trong tất cả các nền pháp chế trên thế giới. Thể nhân là một con người bằng xương bằng thịt, có nghĩa là một người hiện hữu trong xã hội, đóng góp, chia sẻ vào những sinh hoạt của xã hội và dĩ nhiên bị chi phối bởi luật lệ của xã hội ấy. Khi nhiều thể nhân họp lại với nhau để lập thành một nhóm với một danh hiệu được luật pháp chấp nhận thì nhóm đó được gọi là pháp nhân.
Cá nhân hay thể nhân sẽ mai một theo thời gian hơn kém một trăm năm; nhưng pháp nhân hay các đoàn thể, tổ chức thường tồn tại lâu bền hơn.
2. CÁC PHÁP NHÂN
Nếu luật pháp chấp nhận và ban hành luật lệ cho các thể nhân, luật pháp cũng đồng thời chấp nhận và ban hành luật lệ cho các pháp nhân.
Các loại pháp nhân:
Pháp nhân công (personae iuridicae publicae): Khi được Giáo hội nhìn nhận là được thiết lập chiếu theo công ích của Giáo hội và hành động nhân danh Giáo hội. (xem đ.116,1).
Pháp nhân tư (personae iuridicae privatae): Được nhìn nhận như pháp nhân, nhưng không hành động nhân danh Giáo hội. Một nhóm người (Universitas Personarum): Phải có ít nhất từ ba người trở lên.
Một nhóm sự vật (Universitas Rerum): Bao gồm những tài sản, của cải được đặt dưới việc quản lý của các thể nhân hay tập đoàn.
Các pháp nhân trong Giáo hội:
Giáo hội Công giáo và Tòa Thánh hưởng điều kiện pháp nhân do Thiên luật. (xem đ.113,1).
Các pháp nhân được thành lập do Giáo luật:
. Các Giáo phận hay tương đương Giáo phận. (xem đ.374).
. Các Hội Đồng Giám mục. (xem đ.449,2).
. Các Giáo Tỉnh.(xem đ.432,2); Các Giáo Xứ. (xem đ.515,3).
. Các Tu Hội, Tỉnh Dòng, Tu Viện. (xem đ.634,1).
. Các Hội đoàn thờ phượng, Tông đồ, Từ thiện v.v... (xem đ.114,1; 117).
Chấm dứt một pháp nhân. Các pháp nhân có thể bị chấm dứt theo các cách thế sau:
Bị nhà chức trách có thẩm quyền giải tán.
Bị tan rã vì hết hội viên, hết hoạt động. Tuy nhiên, Giáo luật dành một trăm năm mới khai tử pháp nhân, tính từ ngày hết hoạt động.
Nếu là pháp nhân tư, nội qui có thể ấn định việc giải tán, hoặc vì hết thời hạn, hoặc vì mục tiêu đã đạt được. Trong những trường hợp pháp nhân tư, nhà chức trách có thể tuyên bố giải tán nếu thấy hết hoạt động. Khi pháp nhân bị giải tán, tài sản của pháp nhân được thanh toán như sau:
Nếu là pháp nhân công: Tài sản được thanh toán chiếu theo luật hoặc nội qui. Nếu luật và nội qui không nói gì, thì tài sản thuộc về pháp nhân cấp cao hơn, trừ khi ý muốn của người sáng lập hoặc dâng cúng định liệu cách khác.
Nếu là pháp nhân tư: tài sản, các quyền lợi và nghĩa vụ được thanh toán chiếu theo nội qui. (xem đ.123)
3. MỘT TẬP HỢP CÓ TÍNH CÁCH PHÁP NHÂN
“Các tập hợp nhân sự hay sự vật nhằm một mục tiêu hợp với sứ mạng Giáo hội và vượt quá mục tiêu của các cá nhân, có thể được thiết lập thành pháp nhân, hoặc do chính qui định của pháp luật hay do sự cấp phát của nhà chức trách có thẩm quyền bằng một nghị định. Các mục tiêu nói trên được hiểu là những gì liên can đến công việc phụng tự, tông đồ hay bác ái, về tinh thần hay trần thế.
Nhà chức trách Giáo hội có thẩm quyền chỉ nên cấp tư cách pháp nhân cho những tập hợp nhân sự hay sự vật theo đuổi một mục tiêu thực sự là ích lợi, và sau khi đã cân nhắc các hoàn cảnh, thấy rằng họ có các phương tiện dự tính là đầy đủ để đạt được mục tiêu đã định.”. (Ðiều 114)
Các pháp nhân trong Giáo hội có thể là tập hợp nhân sự hay tập hợp sự vật.
“Một tập hợp nhân sự chỉ có thể được thiết lập khi có ít nhất là ba người; được gọi là “tập đoàn” nếu các hội viên ấn định hoạt động bằng cách đồng tham gia vào việc quyết định chung, dù bình quyền hay không, chiếu theo pháp luật và quy chế; đối lại là “phi tập đoàn”.
Một tập hợp sự vật, còn gọi là một thiện quỹ tự trị, được gồm bởi những tài sản hay sự vật, thiêng liêng hay vật chất, và được điều khiển do một hay nhiều thể nhân hoặc do một tập đoàn, chiếu theo pháp luật và quy chế.”. (Ðiều 115)
4. PHÁP NHÂN CÔNG VÀ TƯ.
“Các pháp nhân “công” là những tập hợp nhân sự hay sự vật được thiết lập do nhà chức trách của Giáo hội có thẩm quyền, ngõ hầu trong khuôn khổ ấn định, họ nhân danh Giáo hội để chu toàn nhiệm vụ riêng đã được ủy thác nhắm tới công ích, chiếu theo các quy tắc luật định. Các pháp nhân khác đều là “tư”.
Các pháp nhân công thủ đắc tư cách ấy hoặc do chính luật, hoặc do một nghị định đặc biệt minh thị ban cấp tư cách ấy bởi nhà chức trách có thẩm quyền. Các pháp nhân tư chỉ thủ đắc tư cách ấy do một nghị định đặc biệt minh thị ban cấp bởi nhà chức trách có thẩm quyền.”. (Ðiều 116)
5. ĐIỀU KIỆN XIN TƯ CÁCH PHÁP NHÂN
“Không một tập hợp nhân sự hay sự vật nào xin tư cách pháp nhân có thể thủ đắc nó khi quy chế của họ chưa được phê chuẩn do nhà chức trách có thẩm quyền.”. (Ðiều 117)
6. AI BAN TƯ CÁCH PHÁP NHÂN
“Pháp nhân công được thay mặt và hành động nhân danh mình bởi những người được luật phổ quát hay luật địa phương hay quy chế riêng nhìn nhận thẩm quyền ấy. Pháp nhân tư bởi những người được quy chế trao thẩm quyền cho.”. (Ðiều 118)
7. SINH HOẠT CỦA PHÁP NHÂN
“Đối với những hành vi tập đoàn, nếu luật pháp hay quy chế không dự liệu các khác thì :
- Khi bầu cử, điều gì được quyết định với đa số tuyệt đối của những người có mặt thì có giá trị pháp lý, miễn là có sự hiện diện của quá phân nửa những người phải được triệu tập. Nếu sau hai lần bỏ phiếu không kết quả, thì sẽ lựa chọn giữa hai ứng viên được nhiều phiếu nhất, hoặc nếu có quá hai người, thì lấy hai người lớn tuổi nhất. Sau lần bỏ phiếu thứ ba, nếu số phiếu ngang nhau, thì người lớn tuổi hơn đắc cử.
- Khi bàn về những vấn đề khác, điều gì đã được quyết định với đa số tuyệt đối của những người có mặt thì có giá trị pháp lý, miễn là có sự hiện diện của của quá phân nửa những người phải được tiệu tập. Nếu sau hai lần bỏ phiếu mà kết quả đôi bên ngang nhau, thì vị chủ tọa có thể giải quyết sự ngang nhau bằng phiếu của mình.
- Điều gì liên hệ tới tất cả mọi người xét như là từng người, thì phải được tất cả chấp thuận.”. (Ðiều 119)
8. SỰ TỒN TẠI CỦA PHÁP NHÂN
“Tự bản chất, mọi pháp nhân đều có tính cách vĩnh viễn. Tuy nhiên pháp nhân bị tiêu diệt nếu bị giải tán hợp lệ do nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc đã ngưng hoạt động từ một trăm năm. Ngoài ra, pháp nhân tư còn có thể bị tiêu diệt khi sự kết hội tan rã dựa theo quy chế, hoặc khi nào theo sự phán đoán của nhà chức trách có thẩm quyền, thiện quỹ đã chấm dứt hiện hữu theo quy chế.
Khi chỉ còn một phần tử của pháp nhân tập đoàn tồn tại, mà theo quy chế riêng, tập hợp nhân sự chưa chấm dứt hiện hữu, thì việc sử dụng các quyền lợi của tập hợp sẽ thuộc thẩm quyền của phần tử ấy.”. (Ðiều 120)
9. SÁT NHẬP CÁC PHÁP NHÂN
“Nếu các tập hợp nhân sự hay sự vật đều là những pháp nhân công mà phải sát nhập lại thành một tập hợp cũng là một pháp nhân, thì pháp nhân mới sẽ được hưởng các của cải và quyền lợi về sản nghiệp của những pháp nhân trước và gánh chịu các nghĩa vụ của chúng. Tuy nhiên trong sự phân phối các tài sản và chu toàn các nghĩa vụ, cần phải tôn trọng ý định của người thành lập và dâng cúng cũng như những quyền lợi thủ đắc.”. (Ðiều 121)
10. PHÂN CHIA MỘT PHÁP NHÂN
“Khi tập hợp là một pháp nhân công được phân chia, theo cách là một phần được sát nhập với pháp nhân khác, hoặc một pháp nhân mới được thành lập từ phần tách ra, thì nhà chức trách của Giáo hội có thẩm quyền phân chia, tiên vàn phải tôn trọng các ý định của người thành lập và dâng cúng, cùng những quyền lợi thủ đắc và các quy chế đã được chuẩn y; kế đó phải tự mình hay nhờ người chấp hành lo liệu :
- Sao cho những của cải và quyền lợi về sản nghiệp chung có thể phân chia được, cũng như các nợ nần và gánh nặng khác, phải được san sẻ theo tỷ lệ tương xứng công bằng và hợp lý giữa các pháp nhân, chiếu theo hoàn cảnh và nhu cầu của đôi bên.
- Sao cho cả hai đều có thể sử dụng và hưởng dụng các của cải chung không thể phân chia được, và cả hai đồng gánh chịu các trách vụ gắn liền với các của cải ấy, theo tỷ lệ tương xứng công bằng và hợp lý.”. (Ðiều 122)
11. KẾT THÚC MỘT PHÁP NHÂN
“Khi một pháp nhân công bị tiêu diệt, thì việc thanh toán các của cải và quyền lợi về sản nghiệp lẫn các trách vụ sẽ do luật pháp và quy chế chi phối. Nếu luật pháp và quy chế không nói gì, thì việc giải quyết thuộc về pháp nhân cao cấp trực tiếp, tuy luôn luôn phải tôn trọng ý định của những người thành lập hay dâng cúng, cũng như các quyền lợi thủ đắc. Khi một pháp nhân tư bị tiêu diệt, thì việc thanh toán các của cải và trách vụ sẽ do quy chế riêng chi phối.”. (Ðiều 123)